Welcome to Blog Phim Công giáo

Danh sách: Hạnh Các Thánh

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hạnh Các Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Thánh Sylveste I

Ngày 31 tháng 12 Thánh Sylveste I

Vị thánh giáo hoàng này sống vào thời Giáo hội sơ khai, lúc hoàng đế Constantinô trị vì. Sylveste I đắc cử ngôi giáo hoàng năm 314; và ngài đã cai trị Giáo hội suốt thời gian 21 năm cho tới khi qua đời năm 335.
Truyện kể rằng thoạt đầu Constantinô bách hại giáo hoàng Sylveste I. Ông mắc bệnh phong cùi và, tuyệt vọng vì không chữa trị được, ông đã cho cử hành một nghi thức tà đạo. Dường như Constantinô đã nằm mơ thấy hai thánh Phêrô và Phaolô hiện ra nói truyện với ông. Hai vị bảo ông hãy đến với đức giáo hoàng Sylveste I để xin ngài chữa cho. Sau đó, Constantinô xin được chịu phép Thanh tẩy. Trong lúc lãnh nhận bí tích này tại đền thánh Gioan Lateranô thì Constantinô được chữa lành hoàn toàn. Kết quả là Constantinô không chỉ cho phép Kitô giáo được du nhập vào vương quốc của ông mà ông còn khuyến khích phát triển nó nữa.
Lòng sùng kính thánh giáo hoàng Sylveste I rất phổ biến trong thời Giáo hội sơ khai. Thánh nhân là vị giáo hoàng đầu tiên không phải chịu tử đạo. Trong đền thánh Gioan Lateranô ở Rôma, hiện vẫn còn một bức khảm rất ấn tượng treo trên tường. Bức khảm mô tả Đức Chúa Giêsu đang trao chìa khóa quyền cai trị thiêng liêng cho thánh giáo hoàng Sylveste I.

Trong ngày tất niên hôm nay, chúng ta hãy nài xin thánh giáo hoàng Sylveste I canh giữ chúng ta, các Kitô hữu của thời đại này, như thánh nhân đã canh giữ đàn chiên của ngài.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=97QDrEIjbFQ[/m]
Chuyên mục: , , ,

Chân phước Vinhsơn Vila Đavít

Ngày 30 tháng 12 Chân phước Vinhsơn Vila Đavít

Chân phước Vinhsơn Vila Đavít sinh ngày 28 tháng Sáu năm 1889 tại Valenxia, nước Tây Ban Nha. Ngài là con út trong gia đình có tám người con. Song thân Vinhsơn làm nghề gốm sứ; và họ là các Kitô hữu rất mực sùng đạo. Họ đào tạo con cái mình trong môi trường Kitô giáo. Sau khi học với các cha dòng Piarist, Vinhsơn Vila Đavít ghi tên vào học trường kỹ thuật và đỗ bằng kỹ sư công nghiệp.
Vinhsơn Vila Đavít kết hôn với một thiếu nữ tên Isabel và cả hai cùng sống đời Kitô hữu đạo hạnh. Vinhsơn quan tâm đến giáo xứ của mình và năng giúp các linh mục mỗi khi có thể. Ngài cũng đảm nhận việc quản lý công ty gốm của thân phụ ngài. Các công nhân giúp việc cho Vinhsơn không những coi ngài như ông chủ mà còn như một người cha hay thương yêu con cái. Vinhsơn Vila Đavít luôn quan tâm đến việc đối xử công bằng cũng như nhân phẩm và nhân quyền của công nhân.
Mùa hè năm 1936, tại Valenxia, cuộc nội chiến lên đến đỉnh điểm. Cuộc bách hại các Kitô hữu và Giáo hội của chế độ cai trị cũng rất ác liệt. Vinhsơn Vila Đavít, đang dạy học tại một trường kinh doanh đồ gốm, cũng bị nã súng vì là người Công giáo. Vinhsơn Vila Đavít vẫn anh dũng tiếp tục khích lệ các Kitô hữu khác và giúp đỡ các linh mục những gì có thể.
Ngày 14 tháng Hai năm 1937, Vinhsơn Vila Đavít bị mời ra trước tòa án và bị cấm thực hiện các hoạt động nhân danh Giáo hội. Vinhsơn trả lời rằng được làm Kitô hữu chính là một ơn gọi rất cao cả và ngài sẽ không từ bỏ ngay cả khi phải chết. Lập tức Vinhsơn bị mang đi xử tử. Vinhsơn được phép nhìn mặt người vợ thân yêu lần cuối và ngài đã khích lệ nàng với những lời lẽ đầy đức tin. Vinhsơn công khai tha thứ cho kẻ thù và những kẻ bách hại ngài. Rồi Vinhsơn bị bắn chết vào chính ngày ngài bị bắt giam.
Các công nhân nhà máy gốm như bị sỉ nhục. Họ đã đình công ba ngày liền để phản đối việc xử tử Vinhsơn Vila Đavít. Họ nói với các quan chức xã hội chủ nghĩa, những người đã gắng sức ngăn chặn cuộc đình công của họ, rằng: “Các ông đã cướp đi khỏi chúng tôi một người chủ và một người cha; vì Vinhsơn là người khôn ngoan, rộng lượng và luôn quan tâm đến điều kiện làm việc của chúng tôi. Chúng tôi không chỉ kính trọng mà còn yêu thương ông ấy nữa!”
Vinhsơn Vila Đavít được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày mùng 1 tháng Mười năm 1995. Cái chết của Vinhsơn Vila Đavít, do bàn tay hung bạo của kẻ thù, được xem như một cuộc tử đạo đích thực vì đức tin.

Đức tin của chúng ta áp dụng được cho mọi lãnh vực của đời sống. Trong gia đình cũng như ngoài xã hội, lúc ở trường cũng như khi làm việc, chúng ta đều được mời gọi hãy thực hành những giá trị mà Đức Chúa Giêsu đã dạy trong Tin mừng.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=rKvzZHjzz2w[/m]
Chuyên mục: , , ,

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

Thánh Tôma Bécket

Ngày 29 tháng 12 Thánh Tôma Bécket

Thánh Tôma Bécket sinh năm 1118 tại Luânđôn, nước Anh. Sau khi song thân qua đời, thánh nhân nhận được một chức vụ nơi nhà của đức tổng giám mục giáo phận Cantơbơri. Tôma Bécket bắt đầu học làm linh mục. Chẳng bao lâu, thánh nhân trở thành một sủng thần của vua Henry II. Người ta nói rằng đức vua và Tôma – hai người chỉ có một con tim và một tâm trí. Họ là đôi bạn rất thân thiết của nhau.
Khi Tôma Bécket lên 36, vua Henry II đặt ngài làm thủ tướng trong vương quốc của ông. Với chức vị là thủ tướng nước Anh, Tôma có rất nhiều người giúp việc và được sống sung sướng. Khi đức tổng giám mục giáo phận Cantơbơri qua đời, Henry II muốn đức thánh cha trao cho Tôma Bécket chức vị này; và chức vị này đòi Tôma Bécket phải thụ phong linh mục. Nhưng Tôma Bécket đã nói thẳng thắn với vua Henry II rằng ngài không muốn nhận chức vụ tổng giám mục thành Cantơbơri. Tôma nhận thức rằng với chức vụ đó, ngài sẽ sống đối lập trực tiếp với Henry II. Tôma biết ngài phải bảo vệ Giáo hội chống lại Henry, và lúc ấy vấn đề sẽ rất phức tạp. Tôma cảnh báo Henry: “Lòng quý mến nhà vua dành cho tôi sẽ hóa thành sự thù hận đó!” Nhưng vua Henry II chẳng màng gì đến lời cảnh tỉnh đó và Tôma được đặt làm linh mục rồi giám mục năm 1162.
Tôma Bécket lập tức thay đổi cuộc đời. Thánh nhân sống giản dị hơn và dành nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện. Trước hết, mọi sự diễn ra thật tốt đẹp. Tuy vậy, ít lâu sau, nhà vua bắt đầu đòi xin tiền của Giáo hội mà Tôma Bécket nhận thấy là không hợp lý. Henry II càng lúc càng trở nên tức giận với người bạn cũ của ông. Cuối cùng, ông đã xử với Tôma Bécket cách tàn nhẫn. Phần Tôma Bécket, lúc đầu ngài hơi nhượng bộ. Nhưng về sau, thánh nhân nhận thấy Henry II có ý muốn khống chế luôn cả Giáo hội. Tôma Bécket rất hối hận vì đã nhượng bộ nhà vua. Thánh nhân đã đền tội vì yếu đuối của mình và quyết tâm sau này sẽ cương quyết hơn.
Ngày kia, ông vua rất giận dữ lên tiếng: “Không ai giúp ta diệt trừ đức tổng giám mục này sao?” Và một số hiệp sĩ của Henry II đã xung phong đi thi hành án lệnh ngay tức khắc. Họ đã ám sát đức tổng giám mục. Họ tấn công Tôma Bécket ngay tại nhà thờ chính tòa của giáo phận. Thánh Tôma Bécket đã chết đang khi nói rằng: “Nhân danh Chúa Giêsu và để bảo vệ Giáo hội, tôi xin sẵn sàng chịu chết!” Hôm ấy là ngày 29 tháng Mười Hai năm 1170. Toàn thể thế giới Công giáo đều kinh tởm thứ tội ác này. Đức thánh cha Alêxanđơ III đã giúp vua Henry II ý thức được tội sát nhân đó. Một năm sau, Henry II đã xin đền tội cách công khai. Và các phép lạ bắt đầu xảy ra trên phần mộ của Tôma. Tôma Bécket được chính đức thánh cha Alêxanđơ III tôn phong hiển thánh năm 1173.

Thánh Tôma Beckét dạy chúng ta hãy biết đặt đức tin và lòng trung thành đối với Đức Chúa Giêsu lên trên cả những tình bạn riêng tư của mình. Nếu có người bạn xin chúng ta làm một điều gì đó mà chúng ta biết là phật lòng Thiên Chúa, chúng ta hãy cương quyết chỉ chọn làm điều tốt mà thôi. Hy vọng lòng can đảm và gương sáng của chúng ta cũng sẽ giúp các bạn bè của mình sống thân mật hơn với Thiên Chúa.

Chuyên mục: , , ,

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Các thánh anh hài tử đạo

Ngày 28 tháng 12 Các thánh anh hài tử đạo

Theo sách Phúc âm của thánh ký Matthêu, khi Đức Chúa Giêsu giáng sinh tại Bêlem, thì có các đạo sĩ từ Đông phương tìm đến thờ lạy Người. Họ đã đến với vua Hêrôđê và hỏi xem có thể gặp được vua Dothái cũng là Đấng Cứu Thế mới sinh ra ở đây không. Hêrôđê là một bạo chúa độc ác và gian manh. Khi nghe các đạo sĩ nói về vị tân vương, ông bắt đầu lo lắng sợ mất ngai vàng của mình. Nhưng ông không cho các đạo sĩ biết điều ông đang suy nghĩ. Ông liền triệu tập các trưởng tế lại và hỏi họ xem Kinh Thánh nói Đấng Mêsia sẽ sinh ra ở đâu. Và họ đã trả lời: tại Bêlem!
“Hãy đi và tìm hài nhi này!” Ông vua độc ác nói với các đạo sĩ. “Khi các khanh tìm thấy nơi Người ở, hãy về và tin cho trẫm hay. Sau đó, trẫm cũng sẽ đến và triều bái Người!” Và ba đạo sĩ lên đường. Họ đã gặp thấy Chúa Giêsu là Đấng Mêsia và Đức Mẹ cùng với thánh Giuse. Họ liền sấp mình thờ lạy Người và dâng kính Người lễ vật của họ. Lúc ấy, trong một thị kiến, họ được báo rằng đừng trở về gặp Hêrôđê. Rồi một thiên thần đã hiện ra bảo thánh Giuse hãy đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập. Bằng cách này, Thiên Chúa đã làm hỏng kế hoạch độc ác của Hêrôđê đối với Chúa Hài Nhi Giêsu.
Khi Hêrôđê nhận ra các đạo sĩ không trở lại với mình, ông rất đỗi tức giận. Ông vốn là một người quỷ quyệt và bạo tàn; và giờ đây nỗi sợ bị mất ngai vàng lại càng làm cho ông thêm quẫn trí. Ông đã sai các binh lính của mình đi sát hại tất cả các con trẻ ở thành Bêlem từ hai tuổi trở xuống, hy vọng rằng sẽ giết được Đấng Mêsia đang hiện diện giữa họ. Và quân lính đã thi hành lệnh truyền kinh khủng này. Có một nỗi đau lớn xảy ra trong thành Bêlem vì các bà mẹ khóc than những đứa con nhỏ của họ bị sát hại. Các hài nhi này hôm nay được Giáo hội tôn kính như các thánh tử đạo. Các ngài còn được gọi là các thánh anh hài.

Chúng ta hãy nài xin các thánh anh hài bảo vệ các trẻ em khỏi mọi điều nguy hại. Chúng ta hãy xin các ngài thay đổi lòng dạ những người ủng hộ việc phá thai. Chúng ta cũng hãy cầu xin cho những người bỏ rơi hoặc lạm dụng các trẻ em.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=a1TufUDRIYg[/m]
Chuyên mục: , ,

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Thánh Gioan Tông Đồ

Ngày 27 tháng 12 Thánh Gioan tông đồ

images_2Thánh Gioan là một ngư phủ miền Galilêa. Thánh nhân được mời gọi làm tông đồ cùng với người anh trai của ngài là thánh Giacôbê. Chúa Giêsu đã ban cho hai người con ông Zêbêđê này biệt hiệu là “con của sấm sét.” Thánh Gioan là tông đồ trẻ nhất và người ta tin rằng thánh nhân là “vị tông đồ được Chúa Giêsu yêu quý.”
Trong bữa Tiệc Ly, chính thánh Gioan đã được tựa đầu vào ngực Đức Chúa Giêsu. Thánh nhân cũng là vị tông đồ duy nhất đứng dưới chân Thánh Giá. Chúa Giêsu, trong khi hấp hối, đã trao phó Mẹ yêu dấu của Người cho vị tông đồ yêu quý này. Và quay sang nhìn Mẹ, Chúa Giêsu nói: “Này là Mẹ con!” (Ga 19,27).
Sáng sớm ngày phục sinh, Maria Mađalêna và các phụ nữ khác đã tới mồ Đức Chúa Giêsu, đem theo hương liệu để ướp xác Người. Họ đã trở về báo tin xấu cho các tông đồ: xác Đức Chúa Giêsu bị đánh cắp rồi! Phêrô và Gioan đã lập tức chạy đi điều tra. Gioan tới mộ trước nhưng đã đợi Phêrô và bước vào sau Phêrô. Gioan thấy các khăn liệm đã được cuộn lại gọn gàng và thánh nhân hiểu là Đức Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết. Sau đó tám ngày, các tông đồ đang vất vả bắt cá ở biển hồ Tibêria mà chẳng được con nào. Bỗng có một người đàn ông đứng trên bờ biển và đề nghị các tông đồ hãy thả lưới bên kia mạn thuyền. Khi họ kéo lên lần nữa thì thấy lưới đầy các cá lớn. Bấy giờ Gioan, nhận ra người đàn ông này, đã nói với Phêrô: “Chính Chúa đó!”(Ga 21,7).
Cuộc hiện xuống của Chúa Thánh Linh đã làm cho các tông đồ được thêm nhiều can đảm. Sau khi Chúa Giêsu về trời, thánh Phêrô và thánh Gioan đã chữa lành cho một người què chỉ bằng việc kêu tên Đức Chúa Giêsu.
Người ta tin rằng thánh Gioan đã sống thọ gần 100 tuổi; và ngài là vị tông đồ duy nhất không phải chịu tử đạo. Thánh nhân đã giảng dạy Tin mừng và có lẽ làm giám mục thành Êphêsô. Người ta nói rằng trong những năm cuối đời, khi không còn rao giảng được nữa, các môn đệ của Gioan đã khiêng ngài đến với các nhóm Kitô hữu. Sứ điệp đơn giản của thánh Gioan là: “Các con yêu quý, các con hãy yêu mến nhau!” Thánh Gioan tông đồ qua đời tại Êphêsô khoảng năm 100.

Chúng ta hãy tôn kính thánh Gioan bằng cách đọc sách Tin mừng và các lá thư ngài viết. Càng đọc Kinh Thánh, Kinh Thánh càng trở nên một phần thiết yếu trong lối nhìn và lối nghĩ của chúng ta. Sứ điệp của thánh ký Gioan là chủ đề trung tâm của giáo huấn Chúa Kitô: “Anh em hãy yêu thương nhau!”

[m]http://www.youtube.com/watch?v=7cVPezSCjIw[/m]
Chuyên mục: , , ,

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Thánh Stêphanô

Ngày 26 tháng 12 Thánh Têphanô

ststephanoDanh xưng “Têphanô” có nghĩa là “vương miện.” Vị thánh mà Giáo hội tôn kính hôm nay là môn đệ đầu tiên của Đức Chúa Giêsu được nhận lãnh triều thiên tử đạo. Thánh Têphanô là phó tế trong Giáo hội sơ khai. Chúng ta đọc thấy ngài nơi các chương 6 và 7 trong sách Tông đồ Công vụ. Trong sách này, thánh ký Luca thuật lại cho chúng ta biết khi những người theo Đức Chúa Giêsu tiếp tục gia tăng, thánh Phêrô và các tông đồ đã quyết định cần có thêm những người giúp việc để săn sóc các quả phụ và các người nghèo. Vì thế, các ngài đã truyền chức cho bảy phó tế. Têphanô là một trong các vị nổi tiếng nhất.
Qua thánh Têphanô, Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ. Thánh nhân nói năng rất khôn ngoan và đầy tràn Thánh Thần đến nỗi nhiều người đến nghe ngài đã trở nên môn đệ của Đức Chúa Giêsu. Các kẻ thù của Giáo hội thì tức giận khi thấy thánh Têphanô thuyết giảng thành công. Cuối cùng, họ lập mưu ám hại ngài. Họ không thể đối lại những lý lẽ khôn ngoan của Têphanô, do đó, họ đã sai người tố gian ngài. Những người này nói rằng Têphanô đã nói những điều quái gở chống lại Thiên Chúa. Sau đó, thánh Têphanô phải đương đầu với một hội đồng các kẻ thù mà không sợ hãi gì. Thực sự, Kinh Thánh nói rằng gương mặt của Têphanô giống như gương mặt của một thiên thần.
Thánh Têphanô đã nói về Thiên Chúa, tuyên xưng Người là Đấng Cứu Độ mà Thiên Chúa đã hứa ban. Thánh nhân trách mắng các kẻ thù ngài vì đã không tin vào Đức Chúa Giêsu. Lúc ấy, họ căm phẫn chỗi dậy và nguyền rủa ngài. Nhưng Têphanô ngước mắt lên trời. Thánh nhân nói rằng ngài nhìn thấy các tầng trời mở ra và Đức Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Các kẻ nghe ngài bịt tai lại và họ nhất định không muốn nghe một lời nào nữa. Họ kéo thánh Têphanô ra khỏi thành Giêrusalem và đã ném đá ngài. Thánh nhân cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy nhận lấy linh hồn con!” Rồi Têphanô quỳ xuống và nài xin Thiên Chúa tha thứ cho các kẻ thù giết ngài. Sau khi tuyên xưng đức tin như thế, vị thánh tử đạo đã tiến lên lãnh lấy phần thưởng nước trời dành sẵn cho ngài.

Thánh Têphanô có một quả tim hay tha thứ. Thánh nhân đã để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong ngài và đã không hề có tư tưởng hay hành động trả thù nào. Chúng ta hãy nài xin thánh Têphanô ban cho chúng ta ơn dễ tha thứ và dễ quên đi những điều tha nhân làm tổn thương mình.

Chuyên mục: , ,

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Thánh Phêrô Nolascô

Ngày 24 tháng 12 Thánh Phêrô Nôlascô

Thánh Phêrô Nôlascô sinh tại nước Tây Ban Nha, gần thành Barxêlôna, vào cuối thế kỷ thứ 12. Thánh nhân là con trai của một thương gia buôn bán tại vùng Địa Trung Hải. Khi Phêrô Nôlascô đi tàu, ngài nhận thấy có rất nhiều Kitô hữu đến từ Bắc phi bị bắt làm nô lệ. Trái tim Phêrô đã hướng ngay về những anh chị em này trong Chúa Kitô, và thánh nhân đã dùng tiền bạc của mình để chuộc lại những nô lệ này theo khả năng của ngài.
Thánh Râymunđô Penyapho, giám mục giáo phận Barxêlôna, đã tổ chức một nhóm giáo dân để lo công việc này, và ngài đã đặt Phêrô làm đầu. Nhóm này về sau trở thành một hội dòng, được đặt dưới sự bảo trợ của Đức Trinh Nữ Maria, Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi. Các thành viên của hội dòng được gọi là những người có tấm lòng thương xót. Họ tuyên giữ ba lời khấn thanh khiết, khó nghèo, tuân phục và thêm một lời khấn thứ tư – mà thánh Phêrô Nôlascô thêm vào – là dâng hiến sự tự do của mình, và nếu cần, kể cả mạng sống, để chuộc lại tự do cho những nô lệ Công giáo.
Thánh Phêrô Nôlascô dùng phần đời còn lại của mình đi khắp các nước Tây Ban Nha và Algiêria chuộc lại hàng trăm nô lệ. Thánh nhân qua đời khoảng năm 1256. Hội dòng mà thánh Phêrô Nôlascô thành lập hiện vẫn tồn tại cho đến ngày nay, vẫn đang hoạt động để giải phóng nhiều người trên khắp thế giới thoát khỏi các thể chế áp bức.

Chúng ta có biết ai đang bị bắt nạt hoặc bị đối xử bất công không? Chúng ta có được sự can đảm của thánh Phêrô Nôlascô là đứng về cùng phe với họ không? Chúng ta có dám trở nên những người quảng bá tình hữu nghị và sự thân ái không?

[m]http://www.youtube.com/watch?v=HHJFOS7J2hc[/m]
Chuyên mục: , , ,

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Thánh Gioan Kanty

Ngày 23 tháng 12 Thánh Gioan Kanty

Vị thánh gốc người Ba Lan này sinh năm 1390, là con trai của một nông dân tốt lành. Nhận thấy con mình rất thông minh, song thân Gioan đã gởi ngài tới học tại trường đại học Kracow. Gioan Kanty học hành rất giỏi. Sau đó, Gioan trở thành linh mục, giáo sư và một nhà giảng thuyết. Thánh nhân cũng nổi tiếng về lòng yêu thương người nghèo. Lần kia, Gioan Kanty dùng bữa tại căntin của nhà trường. Bắt đầu bữa ăn, Gioan nhận thấy có một người hành khất đi ngang qua cửa sổ. Ngay lập tức, Gioan Kanty đã chạy ra và trao phần ăn tối của mình cho người ăn xin này.
Một số người đã ghen tức với sự thành công của thánh Gioan, vì ngài vừa là giáo sư vừa là nhà thuyết giảng. Và họ đã tìm cách tước khỏi ngài chức vị giáo sư đại học và chuyển ngài đến trông coi một xứ đạo. Tại đây, Gioan Kanty đã dồn hết tâm huyết vào nhịp sống mới. Tuy nhiên, thoạt đầu mọi sự chưa mấy tốt đẹp. Dân chúng chưa hết lòng cộng tác với ngài, và Gioan Kanty cũng sợ trách nhiệm. Dầu vậy, Gioan Kanty quyết không nhượng bộ; và cố gắng của Gioan Kanty đã đem lại nhiều kết quả. Lúc người ta mời cha Gioan Kanty về lại trường học, bổn đạo trong giáo xứ đã tỏ lòng thương mến ngài cách đặc biệt. Họ đã tiễn Gioan một đoạn đường dài. Thật ra, vì thấy họ rất buồn khi tiễn đưa mình ra đi, cha Gioan Kanty đã nói với họ: “Sự phiền muộn này không làm hài lòng Thiên Chúa đâu! Nếu trong những năm qua cha đã làm điều gì tốt cho các con, các con hãy ca lên bài ca hân hoan!”
Trở lại Kracow, thánh Gioan Kanty lại tiếp tục dạy các lớp Kinh Thánh; và thánh nhân lại trở nên rất nổi tiếng. Gioan được mời về làm gia sư cho các con em thuộc gia đình quý tộc. Tuy nhiên, thánh nhân vẫn ăn mặc hết sức giản dị; và ngài đã bố thí cho người nghèo tất cả những gì mình có. Lần kia, thánh Gioan Kanty vận một bộ áo dòng đen (cũng gọi là áo chùng thâm) cũ kỹ đến dự tiệc. Các người hầu tiệc đã không cho Gioan Kanty vào. Thánh nhân phải trở về nhà và thay một bộ áo mới. Trong buổi dạ tiệc hôm ấy, có người đã vô ý làm đổ dĩa thức ăn lên bộ áo của Gioan. “Đừng nghĩ ngợi gì,” vị thánh nói với giọng hài hước, “bộ áo dòng của tôi dù sao cũng đáng được dùng một chút thức ăn, vì không có nó, tôi đã chẳng được ngồi ở đây!”
Thánh Gioan Kanty sống thọ 83 tuổi. Trong suốt những năm ấy, rất nhiều lần thánh nhân đã bán những của ngài có để giúp đỡ người nghèo. Khi người ta bật khóc vì nghe biết Gioan Kanty đang hấp hối, thánh nhân đã an ủi họ: “Anh em đừng lo lắng cho cái nhà tù hay hư nát này; một hãy nghĩ tới linh hồn sắp sửa được thoát khỏi chốn ngục tù ấy!” Thánh Gioan Kanty về trời năm 1473; và được đức thánh cha Clêmentê XIII tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1767.

Chúng ta hãy học nơi thánh Gioan Kanty sự chuyên cần chu toàn việc học cũng như việc nhà. Thiên Chúa chỉ mong đợi chúng ta cố gắng hết mình và Người sẽ chúc lành cho những nỗ lực của chúng ta. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Kanty giúp chúng ta làm việc với tinh thần vui tươi phấn khởi.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=BJ3IMAhvdLE[/m]
Chuyên mục: , , ,

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Thánh Marguarit Youville

Ngày 22 tháng 12 Thánh Marguarit Youville

youvilleThánh nữ Marguarit Youville sinh ngày 15 tháng Mười năm 1701 tại Quêbéc, nước Canađa. Thân phụ thánh nữ qua đời năm 1708 và gia đình lâm vào cảnh túng thiếu. Những người bà con đã trả tiền học phí cho Marguarit. Marguarit học tại trường dòng thánh Ursulin ở Quêbéc. Hai năm học tại trường nội trú đã chuẩn bị cho Marguarit làm gia sư cho các em trai và em gái ngài. Thánh nữ có tấm lòng quảng đại và thân thiện. Ngài giúp đỡ gia đình bằng việc chế tác và bán các dải ren đẹp. Năm 1722, Marguarit kết hôn với Phanxicô Youville. Dường như cuộc hôn nhân của hai người rất hạnh phúc. Thế nhưng, con người thực của Phanxicô đã được bộc lộ dần qua năm tháng. Ông Phanxicô chỉ thích quan tâm tới việc làm và tiêu tiền hơn là chuyện sống với gia đình của mình. Ông đã bỏ mặc Marguarit một mình với con cái và chẳng đoái hoài gì đến họ.
Rồi Phanxicô Youville đột nhiên qua đời năm 1730, sau tám năm kết hôn. Ông để lại cho Marguarit những món nợ kếch xù phải trả. Một linh mục có tâm hồn quảng đại, cha Lescoat, đã khích lệ Marguarit. Cha đoan chắc với thánh Marguarit rằng Thiên Chúa yêu thương thánh nữ và muốn thánh nữ thực hiện một công việc cao cả cho Người. Ngày 21 tháng Mười Một năm 1737, Marguarit Youville nhận cho ở trọ một người đàn bà vô gia cư và bị mù lòa. Sự kiện này đánh dấu bước khởi đầu của công việc tuyệt vời là Marguarit sẽ chăm sóc cho những người bệnh hoạn nghèo khổ tại các bệnh xá, và sau đó là tại các bệnh viện thực sự. Marguarit Youville thiết lập một hội dòng dành cho các chị em; và người ta đã gọi họ là “các sơ áo xám,” vì tu phục của họ màu xám. Các sơ đã phục vụ tại bệnh viện đa khoa của Montriơ. Bệnh viện hiện rất tồi tàn và đang mắc nhiều nợ. Người ta đã chế nhạo các sơ! Thật khó để tin rằng các sơ có thể đảm nhận thành công một nhiệm vụ nhiêu khê như thế! Nhưng Mẹ Marguarit Youville và các nữ tu của Mẹ không hề nao núng. Các nữ tu đã làm việc, sửa chữa và xây dựng. Nhất là các sơ chào đón mọi người thiếu thốn. Không ai là người quá nghèo hoặc quá yếu đau mà không thể đến điều trị tại bệnh viện của các sơ được. Năm 1765, bệnh viện bị một cơn hỏa hoạn, nhưng Mẹ Youville và các nữ tu của Mẹ đã nhờ người ta xây dựng lại và sau bốn năm thì hoàn tất.
Hai người con trai của Marguarit Youville lần lượt trở thành linh mục: Carôlô, coi xứ Bôsêvil, và Phanxicô, chánh xứ thánh Aos. Năm 1769, cha Phanxicô bị gãy tay. Chính thân mẫu của cha đã vội vã đến săn sóc cho ngài. Mẹ Youville cũng tỏ lòng quảng đại phục vụ các vùng truyền giáo Anhđiêng của Montriơ khi các vùng này bị cơn dịch đậu mùa hoành hành. Và suốt Cuộc Chiến Bảy Năm nổ ra giữa Anh và Pháp, Mẹ Youville đã giúp đỡ các binh lính cả về nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Mẹ giấu các thương binh Anh trong các căn hầm tối của tu viện. Ở đó, các nữ tu của Mẹ đã âm thầm giúp họ cho tới khi họ được bình phục.
Mẹ Marguarit Youville về trời ngày 23 tháng Mười Hai năm 1771. Mẹ được đức thánh cha Gioan Phaolô II tuyên phong hiển thánh ngày mùng 9 tháng Mười Hai năm 1990. Mẹ Marguarit Youville là vị thánh đầu tiên có nguyên quán tại Canađa.

Mẹ Marguarit Youville đã không để những khó khăn chế ngự được Mẹ. Mẹ nhìn thấy điều cần phải làm, tin rằng Mẹ có thể làm được; và, tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Mẹ đã tiến lên với niềm xác tín vững vàng. Chúng ta có để ý thấy ai cần giúp đỡ không? Chúng ta có thể làm được gì để giúp đỡ họ?

Chuyên mục: , , ,

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Thánh Phêrô Canisiô

Ngày 21 tháng 12 Thánh Phêrô Canisiô

canisius2Thánh Phêrô Canisiô sinh tại Hà Lan năm 1521. Thân phụ của Phêrô muốn ngài trở thành một luật sư. Để làm hài lòng thân phụ, cậu nhỏ Phêrô đã học môn luật trước các môn học khác. Tuy vậy, Phêrô sớm nhận thấy mình không được hạnh phúc trong cuộc sống. Lúc ấy, dân chúng khắp nơi đang bàn tán về tài thuyết giảng tuyệt vời của chân phước Phêrô Faber. Ngài là một trong số các vị tổ phụ của dòng Tên. Sau khi Phêrô nghe cha Faber thuyết giảng, Phêrô cảm thấy sung sướng muốn xin đi tu để dâng mình phụng sự Thiên Chúa. Vì thế, Phêrô đã gia nhập dòng Tên. Sau nhiều năm học hành và cầu nguyện, Phêrô Canisiô được thụ phong linh mục.
Thánh cả Inhaxiô đã sớm nhận ra Phêrô Canisiô đích thật là một tông đồ rất hăng say nhiệt thành. Vì vậy, thánh nhân đã gởi Phêrô sang Đức, nơi Phêrô sẽ phục vụ suốt bốn mươi năm dài. Thật không thể kể hết được những hy sinh, những lời nguyện và những công việc cao cả mà thánh Phêrô Canisiô đã làm trong thời gian đó. Thánh nhân quan tâm tới việc làm sáng lên những giáo huấn của Giáo hội tại nhiều thành phố bên nước Đức. Phêrô Canisiô cũng nỗ lực đem những người lạc giáo trở về với đức tin chân thật. Người ta nói rằng thánh Phêrô Canisiô đã đi khoảng 20000 dặm trong ba mươi năm. Ngài thường đi bộ hoặc dùng ngựa để làm phương tiện. Dầu vậy, thánh nhân vẫn tìm thời giờ để viết các sách bàn về đức tin. Ngài nhận thấy sách vở thật quan trọng dường nào và Phêrô Canisiô đã tổ chức một chiến dịch ngăn chặn các sách vở có nội dung độc hại. Phêrô Canisiô cũng gắng hết sức mình truyền bá những sách báo tốt để dạy đức tin cho dân chúng. Hai cuốn sách giáo lý mà thánh nhân đã viết thật quá phổ biến đến nỗi nó đã được in ra trên hai trăm lần và được dịch ra mười lăm thứ tiếng.
Với những người nói Phêrô Canisiô đã làm việc quá vất vả, thánh nhân chỉ trả lời rằng: “Nếu bạn có nhiều việc để làm, thì với ơn Chúa giúp, bạn sẽ có nhiều giờ để hoàn tất những việc ấy.” Vị thánh tuyệt vời này về trời năm 1597. Thánh Phêrô Canisiô được đức thánh cha Piô XI tôn tặng danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh năm 1925.

Như thánh Phêrô Canisiô, chúng ta hãy nhiệt thành trao dồi một sự hiểu biết sâu xa về đức tin Công giáo. Học hỏi Kinh Thánh và các chân lý đức tin là tiến trình hằng ngày, liên tục và kéo dài trong suốt đời sống chúng ta.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=OgW46cFaXuY[/m]
Chuyên mục: , , ,

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Thánh Đaminh Silô

Ngày 20 tháng 12 Thánh Đa Minh Silô

Thánh Đa Minh Silô, cậu bé chăn chiên người Tây Ban Nha, sinh vào đầu thế kỷ thứ 11. Thánh nhân đã trải qua nhiều giờ chăn chiên một mình tại thung lũng của dãy núi Pyrênê. Chính tại đây, Đa Minh đã triển nở lòng yêu mến cầu nguyện. Sau đó, Đa Minh đi tu và trở nên một tu sĩ rất thánh thiện. Rồi Đa Minh được chỉ định làm Bề trên tu viện và ngài đã canh tân rất nhiều vấn đề. Tuy nhiên một ngày kia, ông hoàng Garcia III xứ Navar, nước Tây Ban Nha nói rằng một số tài sản của tu viện là thuộc về ông ta. Thánh Đa Minh đã không làm theo sự đòi hỏi của ông. Ngài nghĩ rằng thật vô lý khi trao cho ông hoàng những tài sản của Giáo hội. Và quyết định của Đa Minh đã làm cho ông hoàng Garcia III rất tức giận. Ông đã ra lệnh cho Đa Minh phải rời khỏi xứ sở của ông. Tu viện trưởng Đa Minh và các tu sĩ của ngài được một ông hoàng khác, Phécđinăng I xứ Castile, chào đón. Phécđinăng nói rằng các tu sĩ có thể sử dụng một tu viện cổ, gọi là tu viện thánh Sêbastianô ở Silô. Tu viện này tọa lạc tại một nơi hẻo lánh và rất tồi tệ. Thế nhưng, với tu viện trưởng Đa Minh, chẳng bao lâu tu viện cổ đã có một bộ mặt mới. Thực sự, tu viện trưởng đã làm cho nó trở thành một trong các tu viện nổi danh nhất trong toàn cõi Tây Ban Nha.
Thánh Đa Minh Silô đã làm nhiều phép lạ chữa mọi loại bệnh tật. Nhiều năm sau khi qua đời, Đa Minh Silô đã hiện ra với một phụ nữ tên là Gioan, tức nữ chân phước Gioan Aza. Thánh nhân nói với Gioan Aza rằng Thiên Chúa sẽ ban thêm cho bà một người con nữa. Khi sự việc xảy ra, Gioan Aza đã biết ơn thánh Đa Minh Silô và đã lấy tên của thánh nhân mà đặt cho con trai mình. Người con ấy chính là thánh cả Đa Minh, đấng sáng lập hội dòng Anh Em Thuyết Giáo. Chúng ta đã mừng lễ kính ngài hôm mùng 8 tháng Tám. Thánh Đa Minh Silô về trời ngày 20 tháng Mười Hai năm 1073.

Qua cuộc sống của mình, thánh Đa Minh Silô chỉ cho chúng ta thấy rằng việc cầu nguyện cũng thiết yếu như chuyện ăn uống và hít thở vậy. Mỗi ngày, chúng ta hãy xin thánh Đa Minh Silô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cần dành thời giờ cho Thiên Chúa.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=lUNWkiMi064[/m]
Chuyên mục: , , ,

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Chân phước Urbanô V

Ngày 19 tháng 12 Chân phước Urbanô V

HCT_11_12_9Tên thật của chân phước Urbanô V trước khi làm giáo hoàng là William Grimôard. Ngài sinh tại Pháp vào năm 1313 và đi tu dòng Bênêđictô. Sau khi phục vụ Giáo hội với nhiều chức vụ cao cả, ngài đã được chọn lên làm giáo hoàng. Thời gian ấy, đức giáo hoàng sống ở một thành phố bên Pháp tên Avi-nhông. Tuy vậy, đức thánh cha Urbanô quyết định sẽ trở về Rôma vì nơi đây mới là giáo đô và là nơi an cư của đức giáo hoàng. Đức thánh cha Urbanô là giám mục giáo phận Rôma, và ngài biết Rôma mới là nơi ở của mình. Và đã có nhiều khó khăn xảy ra. Tuy người dân Pháp phản đối việc ra đi của ngài, nhưng đức thánh cha Urbanô vẫn thực hiện điều ngài biết là đúng.
Dân thành Rôma rất vui sướng chào đón đức thánh cha trở về. Họ đặc biệt vui mừng vì có một người thánh thiện là đức Urbanô V. Việc đầu tiên đức thánh cha làm là sửa chữa lại ngay các ngôi nhà thờ lớn của Rôma. Ngài giúp đỡ người nghèo và khuyến khích dân chúng lấy lại lòng nhiệt thành sốt sắng. Hoàng đế Carôlô IV rất kính trọng đức thánh cha. Nhưng đức Urbanô V đã phải gặp nhiều khó khăn, cộng thêm sức khỏe luôn yếu kém của ngài. Chiến tranh đang nổ ra giữa hai nước Anh và Pháp. Nhiều vị hồng y đã năn nỉ đức thánh cha trở về lại Avi-nhông. Vì vậy sau cùng, đức Urbanô V đã nhượng bộ. Đang lúc sửa soạn rời khởi Rôma, dân chúng đã kéo đến nài xin ngài ở lại. Đức thánh cha rất buồn nhưng dầu sao, ngài cũng đã ra đi. Khoảng ba tháng sau, đức Urbanô V qua đời. Đó là năm 1370.
Urbanô V là một người tốt lành và thánh thiện. Ngài đã làm được nhiều việc cho Giáo hội, cho các trường học, các đại học và cho dân chúng. Người ta đã gọi đức Urbanô V là “ánh sáng của thế gian và là đường dẫn tới chân lý.”

Đức Urbanô V đã có nhiều trách nhiệm cũng như công việc phải giải quyết. Hằng ngày chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cho đức thánh cha đương kim của chúng ta. Chúng ta hãy thưa lên với Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy bảo vệ đức thánh cha của chúng con. Xin Chúa hãy trở nên ánh sáng, an ủi và sức mạnh cho ngài!”

[m]http://www.youtube.com/watch?v=2SqPQY0fbHA[/m]
Chuyên mục: , , ,