Welcome to Blog Phim Công giáo

Danh sách: Thánh nhân

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thánh nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Thánh Anrê

Thánh Anrê

andre3Cũng như anh trai mình là thánh Simon Phêrô, thánh Anrê làm nghề đánh cá. Ngài là môn đệ của thánh Gioan tẩy giả. Tuy nhiên, khi Gioan giơ tay chỉ về phía Đức Chúa Giêsu và nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa,” Anrê đã lập tức rời bỏ Gioan tẩy giả mà đi theo Thầy Chí Thánh. Chúa Giêsu biết Anrê đang bước theo mình thì quay lại hỏi: “Anh tìm gì thế?” Anrê trả lời rằng mình muốn biết nơi ở của Đức Chúa Giêsu. Và Đức Chúa Giêsu trả lời: “Hãy đến và xem!” Anrê đã lưu lại với Chúa Giêsu một thời gian khi ngài nhận ra đây đích thực là Đấng Mêsia (x. Ga 1,35-39). Từ lúc ấy, Anrê quyết định bước theo Chúa Giêsu. Và ngài đã trở thành môn đệ đầu tiên của Đức Chúa Giêsu.
Sau đó, thánh Anrê đem anh mình là Simon (thánh Phêrô) đến với Chúa Giêsu. Đức Chúa Giêsu cũng nhận Simon làm môn đệ của Người. Đầu tiên, hai anh em vẫn tiếp tục nghề đánh cá và phụ giúp gia đình. Sau đó, Chúa Giêsu mời gọi họ bỏ luôn lối sống cũ để trở nên môn đệ “toàn phần” của Người. Chúa Giêsu hứa làm cho họ trở thành những ngư phủ đi lưới người ta, và lần này hai anh em đã bỏ chài lưới của mình luôn. Người ta tin rằng sau khi Đức Chúa Giêsu lên trời, thánh Anrê đã đến rao giảng Tin mừng tại Hy Lạp. Người ta cũng nói rằng thánh nhân đã bị giết chết trên một cây thập giá hình chữ X, chỉ bị trói chặt chứ không bị đóng đinh. Anrê sống hai ngày trong tình trạng đau khổ như thế. Thánh nhân vẫn tìm được đủ nghị lực để rao giảng cho những người đến tập trung quanh vị tông đồ dấu yêu của họ.
Hai quốc gia đã chọn thánh Anrê tông đồ làm thánh bổn mạng, đó là nước Nga Sô và xứ Scốtlen.

Khi thánh Anrê tông đồ trông thấy cây thập giá mà ngài sắp phải chịu chết trên ấy, thánh nhân đã kêu lên: “Ôi thập giá tốt lành! Thập giá đã trở nên xinh đẹp nhờ Thân Xác Chúa Kitô!” Chúng ta hãy cầu xin thánh Anrê giúp chúng ta biết nhận ra thập giá riêng của mỗi người chúng ta. Thánh nhân sẽ củng cố nghị lực cho chúng ta để chấp nhận thập giá ấy cách quảng đại.

[m]http://www.youtube.com/watch?v=9iWRncotICA[/m]
Chuyên mục: , ,

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

Ông già Noel

saint nicholas movieThánh Nicôla (tiếng Anh: Nicolas, tiếng Ý: Nicola) là vị thánh quan thầy của trẻ em, là một trong những vị thánh quen thuộc, thường cầu bầu cho dân chúng. Đặc biệt ngày nay, người ta cho rằng hình ảnh Ông già Noel trong dịp Lễ Giáng Sinh chính là hiện thân của Thánh Nicôla. Lễ kính vị thánh này là vào ngày 6 tháng 12 hằng năm (ngày mất của Ngài).

Bộ phim hoạt hình này kể về cuộc đời của Ngài. Bộ phim gồm 2 tập, dài 30 phút. Mời các bạn cùng theo dõi

Xem phim

Một số thông tin thú vị:

Trong khi mọi người đều cho rằng Santa Claus chỉ là chuyện thần thoại thì thực chất Santa Claus lại xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Ni-kô-la. Ông là con một trong một gia đình theo đạo Cơ Ðốc giàu có. Ni-kô-la sinh ra vào khoảng những năm 280 tại Patara, một cảng nhỏ của thị trấn Lycia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Khi còn nhỏ cậu bé đã được mẹ dạy rất nhiều về kinh thánh nhưng không may, cha mẹ qua đời do bệnh dịch, bỏ lại cậu cùng toàn bộ gia tài.

Ni-kô-la được nhiều người biết đến vì biết thương người nghèo và dành cả đời mình để phục vụ Chúa. Một lần, gặp ba cô gái trẻ không có người cầu hôn vì cha họ quá nghèo, ông liền lấy ba túi vàng và bỏ vào phòng ba cô gái nọ. Nhờ đó mà họ lấy được chồng và sống rất hạnh phúc. Mặc dù vậy, những người La Mã lại luôn khinh miệt ông, Họ bắt giam và tra tấn ông trong ngục tối. Khi Công-xtăng-tin trở thành hoàng đế La Mã thì ông đã trả tự do cho thánh Ni-kô-la . Cũng từ đó Công-xtăng-tin trở thành con chiên của đạo Cơ Ðốc. Ông triệu tập hội nghị Ni-a-xê-a và thánh Ni-kô-la được mời làm đại biểu của hội nghị. Thánh Ni-kô-la được đặc biệt ca tụng vì tình yêu của ông dành cho trẻ em. Người ta đồn rằng các món quà bất ngờ đều do thánh Ni-kô-la mang đến và cũng chính ngài là người luôn mang quà đến cho trẻ em vào các dịp Nô-en.

Bên cạnh đó, thánh Ni-kô-la còn là người bảo vệ cho các thuỷ thủ đảo Xi-xin-li của nước Hy Lạp và nước Nga. ở đất nước Hà Lan, truyền thuyết về thánh Ni-kô-la luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân. Vào thế kỉ thứ 16, ở Hà Lan trẻ em thường đặt những chiếc giầy gỗ của mình bên cạnh lò sưởi với hy vọng là chúng sẽ được thánh Ni-kô-la thết đãi no nê. Người Hà Lan phát âm từ St. Nicholas (thánh Ni-kô-la) thành Sint Nicholaas, sau đó nói chệch thành Sinterklaas và cuối cùng được những người theo giáo phái Anh đọc thành Santa Claus.

Hầu hết các truyền thuyết về thánh Ni-kô-la đều bắt nguồn từ Hoa Kỳ. Người Hà Lan khi đến khắp các vùng đất trên thế giới đã mang theo các truyền thuyết về thánhNi-kô-la Họ xây dựng nhà thờ đầu tiên ở New York và lấy tên thánh đặt cho nhà thờ. Năm 1822, Clement Clarke Moore đã viết truyện “Ðêm trước Giáng Sinh” (The Night Before Chrismas) để kể cho trẻ em trong gia đình nghe vào đêm Noel. Câu chuyện có lẽ chỉ được lưu truyền trong gia đình nhà Moore nếu như không có một người bạn của gia đình gửi bản thảo câu chuyện đó tới toà báo.Nhà sản xuất phim hoạt hình thế kỷ 19, Thomas Nast đã hiện đại hoá hình ảnh ông già Nô-en. Trong phim hoạt hình của mình về Giáng Sinh, ông đã tạo dựng nên hình ảnh ông già Noel vui tính, râu tóc trắng xoá, má đỏ hồng, mặc bộ đồ đỏ trắng, đi khắp ngõ phố mang quà đến cho trẻ em. Trong phim của Thomas Nast, ông già Nô-en dành cả năm để đọc thư trẻ em khắp nơi trên thế giới gửi đến, và sản xuất đồ chơi theo ý muốn của các em. Những hình ảnh này, ngày nay đã gắn liền với truyền thuyết về ông già Noel.

Chuyên mục: , , ,

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Tổng Giám Mục Romero


Tổng giám mục Romero, niềm hy vọng của các nạn nhân của bạo lực
Xem phim

WHĐ / Zenit (25.03.2010) – Thứ ba 23/3/2010. Đúng ba mươi năm trước đây, tính theo từng ngày, Oscar Arnulfo Romero, Tổng giám mục San Salvador, bị ám sát ngay tại bàn thờ, trong khi ngài cử hành thánh lễ cho các bệnh nhân ung thư trong nhà nguyện của bệnh viện Chúa Quan Phòng, ở thủ đô Salvador. Đức Tổng giám mục Romero đã ngã xuống như nạn nhân của một cuộc chiến tranh đẫm máu đang xâu xé đất nước này, nhưng ngài lại được tôn vinh là “niềm hy vọng của các nạn nhân”. Và một Hội nghị thần học được tổ chức để suy niệm về chủ đề “Ba mươi năm sau cuộc tử đạo của Giám mục Romero: trở lại và hy vọng”.

Quỹ Romero khẳng định: “Tôn vinh Đức Tổng giám mục Romero là hiện tại hóa những lời kêu gọi của ngài hướng người ta tới sự siêu việt, lời kêu gọi khước từ các thần tượng mới đang tấn công xã hội hiện tại; là đảm nhận lòng tin của chúng ta trong chiều kích thâm sâu của lịch sử và nhận ra đằng sau những nét của người già và người trẻ những khuôn mặt bị loại trừ, dung mạo của chính Thiên Chúa”.

Sát cánh với các nạn nhân

Trong lời tựa của cuốn sách có nhan đề “Oscar Romero: một giám mục giữa cuộc chiến tranh lạnh và cách mạng”, Đức Hồng y Etchegaray nhắc nhở rằng Đức Tổng giám mục Salvador “đã bị ám sát chết vì đã tố cáo bạo lực của các phe phái” trong cuộc xung đột (chính phủ và du kích quân).

“Khi Đức Tổng giám mục bị giết chết, xã hội rơi vào cuộc nội chiến, bởi vì từ quá lâu rồi, tiếng nói đòi hỏi công lý đã không còn được lắng nghe, và phe này cũng như phe nọ, cuối cùng, chỉ nhìn thấy có một giải pháp là sử dụng vũ khí”.

“Sau khi đã hiến trọn đời mình để phục vụ Thiên Chúa, Đức Tổng giám mục Romero đã trở thành một ngôn sứ của công lý và hòa bình. Các bài giảng của ngài được phát trên truyền thanh, đã được cả đất nước theo dõi, bạn cũng như thù, bởi vì Oscar Romero đã nói lên sự thật… bởi vì lời của ngài mang tính con người, tôn giáo, huynh đệ. […] Ngài xem như bổn phận của ngài là phải mạnh mẽ ủng hộ hòa bình, công bằng và hòa giải”.

Đức Giám mục Vincenzo Paglia, phụ trách giáo phận Terni-Narni-Amelia và là người đứng ra xin phong chân phước cho Đức Tổng giám mục Salvador, cách đây hai năm, tuyên bố trên Osservatore Romano: “Đức Tổng giám mục Romero là một nạn nhân của phân cực chính trị vốn chẳng còn chừa chỗ tình bác ái và các hoạt động mục vụ của ngài”.

“Là kẻ thù của bạo lực từ cả hai phía, ngài chống chính quyền quân sự và phe đối lập, với tư cách chủ chăn, ngài sống thảm kịch của đàn chiên của mình”.

“Mặc cho dư luận nói này, nói nọ, Đức Tổng giám mục Romero vẫn một lòng tin tưởng ở tình liên đới của hai vị giáo hoàng (Phaolô VI và Gioan-Phaolô II), như tập nhật ký của ngài cho thấy, và đây là một điểm mạnh cho án phong chân phước của ngài.

Một ngày dâng kính Tổng giám mục Romero

Trong khuôn khổ của việc kỷ niệm lần thứ ba mươi ngày Đức Tổng giám mục Romero bị ám sát, quốc hội Salvador hôm 4/3 vừa qua đã thông qua quyết định từ nay lấy ngày 24/3 làm ngày dâng kính Tổng giám mục Oscar Arnulfo Romero. Quyết định này của Quốc hội Salvador đã có được sự đồng ý của Giáo hội công giáo, các giáo hội lịch sử có mặt trong nước và nhiều tổ chức xã hội.

Các thủ tục xin phong chân phước cho Đức Tổng Giám mục Romero đã được bắt đầu vào năm 1994.

Chuyên mục: ,

Phim Tài Liệu: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài dám đánh đổi điều cao quí nhất là mạng sống của mình để làm chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa mà các ngài tôn thờ. Xin giới thiệu với độc giả clips tường thuật lại những giai đoạn lịch sử oai hùng trong việc giữ đạo và sống đạo của Tổ Tiên chúng ta.

Xem phim
Chuyên mục: , ,

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu

1227950250_104942~Teresa-with-Cross-Posters
Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, mà GH kính nhớ hôm nay, là một vị thánh có nhiều liên hệ với chúng ta, nhất là trong khía cạnh truyền giáo, vì thánh nữ đã được đặt làm Bổn Mạng các miền truyền giáo, cũng như trong khía cạnh tu đức, vì thánh nữ đã mở ra con đường thơ ấu thiêng liêng.
Xem phim HD
Xem phim
Xin Thánh Têrêxa giúp chúng ta có được một tâm hồn truyền giáo như người, và noi gương người sống đơn sơ phó thác trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa
Têrêxa Hài Đồng Giêsu sinh năm 1873, qua đời năm 1897, quả là một vị thánh rất trẻ, chỉ sống được 24 tuổi đời. Một vị thánh rất hợp thời. Một vị thánh rất gần với chúng ta. Cũng là một trong những khuôn mặt lớn của Giáo Hội công giáo, đã được Đức Piô XI tôn phong làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê của mấy thế kỷ trước. Lại còn được phong tiến sĩ Hội Thánh nữa (1997).
Tuổi thì trẻ, cuộc đời thì vắn vỏi, mà danh lại cao, sao được như thế ? Thực sự, chẳng có gì khác lạ, chẳng có dấu hiệu đặc biệt nào bày tỏ ra bên ngoài. Với chuỗi ngày qua đi như những điệu buồn trong nếp sống kín cổng cao tường, tưởng cũng như trăm ngàn người khác, như trăm ngàn cuộc đời khác. Nhưng không phải vậy. Nếp sống ấy là một sự khai phá, một sự trở về nguồn. Nó không rườm rà, không kênh kiệu. Nó dễ dàng, ai cũng có thể theo được. Nhưng nó lại mới mẻ, do nhiều người đã quên nó, hoặc biết đấy mà không thích hoặc không thèm theo. Nếp sống ấy chính là con đường thơ ấu thiêng liêng của chị thánh.
Mẹ mất sớm, Têrêxa chỉ còn biết có tình phụ tử. Cũng may, thánh nữ có một người cha rất đạo đức. Ông đã có lần muốn đi tu, nhưng không thành, rồi sau lập gia đình. Ông rất mực thương các con, nhất là đứa con nhỏ sớm mất mẹ. Xin gì cho nấy, đòi gì được nấy. “Ba ơi, bồng con”. “Ba ơi, dắt con lên lầu”. “Ba ơi, đưa con ra ngoài nhìn mấy ông sao”. Người cha bao giờ cũng làm theo những lời xin đó của con. Ông là một thứ gà trống phải kiêm nhiệm cả vai trò của gà mái. Tuy chiều Têrêxa, nhưng không bao giờ ông quên nhiệm vụ hướng dẫn con nhìn về quê trời.
Sau này, khi lớn lên, Têrêxa hiểu được hơn tình của người cha dành cho mình, thì cũng là lúc chị phải xa cha, xa nhà, giã từ cuộc sống thế tục, theo chân các chị vào tu trong dòng kín. Song cũng chính ở đây, Têrêxa lại khám phá ra một tình phụ tử khác, vừa thay thế cho tình cha con ruột thịt, vừa bền lâu và sâu đậm hơn nhiều. Đó là tình phụ tử của Thiên Chúa đối với chị. Bền lâu, vì Chúa Cha hằng hiện diện bên chị. Cần gặp gỡ, chuyện vãn, cầu xin, là có ngay. Sâu đậm, vì Thiên Chúa là Tình Yêu, hằng tuôn đổ tình yêu cho những ai chạy đến với Người. Một tình yêu không dựa trên giác quan, không dựa trên cảm xúc nhất thời. Một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi.
Biết vậy nên Têrêxa đã tập sống với tình phụ tử ấy. Đối với Chúa là Cha, còn gì đẹp hơn cho một người con là sống đơn sơ, ngay thật và phó thác, như con trẻ. Trẻ thì có sao nói vậy. Thưa lại với Chúa khi chị em nói này nói nọ, để được Chúa ủi an. Tỏ bày niềm vui với Chúa khi đã làm một việc lành, để được Chúa chỉ dạy thêm. Gặp khó khăn thì hoàn toàn phó thác vào Chúa, như gà con nấp dưới cánh gà mẹ.
Nhờ sống đúng tình cha con như thế, theo con đường thơ ấu thiêng liêng như thế, mà Têrêxa đã được Chúa chúc phúc. TC có thể nói với mọi người về Têrêxa như thế này: Ai hạ mình xuống như trẻ này, sẽ là kẻ lớn nhất trong Nước Trời.
Chúng ta có dám đi theo con đường của Têrêxa chăng? Có muốn sống tinh thần thơ ấu của chị thánh chăng? Trong Tin Mừng, chúng ta được thấy thái độ của Chúa Giêsu đối với trẻ em: để chúng đến gần, chúc lành cho chúng, coi chúng là mẫu mực cho người lớn.
Chúa muốn nói gì khi tỏ thái độ như vậy? Chắc chắn Ngài không muốn cho chúng ta sống như con nít, vô lo, khờ khạo.
Vào Nươc Trời là phải biết suy nghĩ, khôn ngoan, cương quyết, dũng cảm. Nước Trời chỉ dành cho những người có sức mạnh, như có lần Chúa đã nói. Tuy nhiên, Chúa muốn cho chúng ta giống như con trẻ, tức là có những cách xử sự đáng yêu như con trẻ, những cách xử sự phải có đối với Thiên Chúa là Cha chúng ta. Nhất là thái độ cởi mở, luôn phó thác và cậy nhờ vào Cha trong mọi sự.
Phần chúng ta, thành thực mà nói, nhiều người trẻ tuổi mà ít trẻ tính, không trẻ tâm hồn. Càng lớn tuổi hơn thì càng khó hơn. Chúng ta muốn làm người lớn trước mặt người khác, mà vô tình cũng muốn làm lớn trước mặt Thiên Chúa. Mà người lớn thì lắm ưu tư, lo lắng, dằn vặt, muốn tự mình giải quyết mọi sự. Nhưng nhiều khi chẳng giải quyết được gì, vì có những chuyện ngoài khả năng và vượt tầm tay. Như vậy chẳng phải là quên đi tâm tình phó thác rồi sao?
Chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha, “Lạy Cha chúng con”, nhưng gọi tên Cha mà lòng thì sợ. Sợ hơn yêu. Sợ thì đâu còn thân tình. Chúng ta muốn tránh không nhớ tới Cha. Thảng hoặc nhớ đến thì làm một hành vi nào đó cho qua một chút bổn phận đối với Cha. Đó là lúc cầu nguyện.
Thành thử cầu nguyện không còn là những giây phút bộc lộ chân tình. Tệ hơn nữa là thái độ tính toán khi đến với Cha: đến thì được gì và mất gì. Nhiều lúc chúng ta so đo hơn thiệt, nhất là thấy mất thì giờ khi làm việc đạo đức. Nhiều lúc chúng ta chán nản khi cầu không được, ước không thấy. Một tâm hồn đơn sơ đâu có tính toán như vậy. Têrêxa đâu có tính toán như vậy. Chúng ta còn thua chị thánh nhiều lắm
Mỗi người chúng ta, nhân ngày lễ hôm nay, hãy suy nghĩ thêm về cuộc đời của Têrêxa, mà những nét chính hẳn ai nấy đều biết. Chúng ta sẽ thấy rằng, trên con đường thánh thiện, người ta trở thành con trẻ khi nhận ra Thiên Chúa thật lớn và giầu lòng yêu thương, một tình yêu của người cha đối với con cái. Thánh nữ Têrêxa sẽ giúp ta đi vào con đường đó.
Lm. Micae Trần Đình Quảng
Chuyên mục: ,

Thánh Nữ Rita De Cascia

Augustinian_Nun_Stigmatist_St_Rita_of_Cascia_1381-1457_Monastery_IconsPhim Thánh Nữ Rita De Cascia, dài 3 tiếng 20 phút. Thánh nữ là một con người thực tế, giàu lòng nhân ái nhưng lại sống trong một thời đại đầy bạo lực. Trong đó, việc tranh giành quyền lực giữa các dòng họ đã dẫn đến những việc chém giết, trả thù và tiêu diệt lẫn nhau. Lòng nhân ái đã thôi thúc Rita quyết tâm mưu tìm hòa bình trong gia đình và giữa các dòng họ, bất chấp việc đi ngược lại với lối sống và suy nghĩ của những người cùng thời đại. Tình yêu và lòng nhân ái đó cũng đòi hỏi sự trả giá nơi cuộc đời của thánh nữ Rita, thế nhưng Tình Yêu đã chiến thắng Hận Thù và hoán cải được tâm hồn con người…
Xem phim
Chuyên mục: ,

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Cha Thánh DonBosco - Quan Thầy giới trẻ - HD

Thánh Don Bosco

Cha thánh Don Bosco tên thật là Gioan Bosco sinh vào ngày 16 tháng 8 năm 1815, tại phía Bắc nước Ý. Cha của Don Bosco chết khi lúc người chỉ mới hai tuổi. Trong suốt thời niên thiếu, người sống trong cảnh nghèo túng. Ngay từ nhỏ, người mong muốn được đi học để tương lai trở thành một linh mục, nhưng người đã gặp nhiều thất vọng trên mọi nẻo đường. Anh trai của Gioan Bosco tên là Giuse, tuy là người giúp ích được nhiều nhưng chỉ là anh họ của Gioan Bosco. Anthony, lớn hơn Gioan Bosco những mười tuổi, và anh ta tìm bất kỳ mọi cách để chống đối việc Gioan Bosco đi học.

Xem phim

Một vị linh mục về hưu gia đã gặp và trò chuyện với Gioan Bosco khi cậu đang trên đường từ một ngôi làng về nhà mẹ của mình là bà Margaret. Ðó là cha Colosso, cha rất kinh ngạc vì trí nhớ tốt sắc bén của cậu bé Gioan Bosco. Cha tự xin làm thầy dạy kèm riêng tư cho Gioan Bosco. Tất cả trở mọi sự trôi qua êm đẹp được vài tháng cho đến khi người linh mục ấy qua đời. Với tuổi đời mới được mười hai, Gioan Bosco đã phải sống và làm việc tại một nông trường ở trong một ngôi làng gần đó. Khi lên 15 tuổi, Gioan Bosco đến thành phố Chieri, ở đây cậu đã được đến trường học. Sau giờ học cậu bé đã làm mọi công việc mà cậu ta có thể tìm được, cậu đã học một số nghề buôn bán như: nghề may, thợ mộc, thợ rèn, người hầu bàn - bất cứ điều gì để có thể kiếm được một số tiền nho nhỏ để mua đồ ăn hoặc quần áo. Vào năm 1835, cậu bé Gioan Bosco đã được gia nhập vào một trường dòng. Và sáu năm sau thì Gioan Bosco chịu chức linh mục.
Công việc của Bosco Don dành cho giới trẻ bắt đầu vào ngày 8 tháng 12 năm 1841. Trong lúc cha Bosco đang đi vào nhà thờ để chuẩn bị dâng Thánh Lễ thì nghe thấy tiếng ồn ào nơi phòng áo. Ở đó cha thấy người trông coi phòng áo đang đánh liên tục một cậu con trai nghèo với một cây roi, và cha Bosco đã lập tức dừng ông ta lại không cho đánh tiếp và đuổi ông ta ra khỏi nhà thờ. Tên của cậu bé bị đánh đập ấy là Garelli Bartholomew, một chú trẻ mồ côi 16 tuổi làm nghề gạch ngói. Ba ngày sau, Bartholomew rủ theo tám người bạn của cậu ấy đến với Cha Bosco. Chỉ một việc đơn giản của cha Bosco như thế đã bắt đầu công cuộc giúp đỡ cho giới trẻ của người.
Nhưng khi bắt đầu một công việc gì thì bao giờ cũng gặp khó khăn cực nhọc, cha Bosco và những cậu thanh thiếu niên của cha đã phải đi lang thang trên đường phố để tìm một chỗ thứ nhất là để dạy giáo lý, để dâng lễ, giải tội, đồng thời là nơi chỗ để cho các cậu bé chơi đùa. Công việc của cha đã bị hiểu lầm bởi các tu sĩ và cảnh sát an ninh tại địa phương, họ đã nhìn công việc của cha với cặp mắt hoài nghi. Ðã có những lần cha bị những người khác nói xấu và thậm chí cả lăng mạ, xỉ nhục người. Nhưng giấc mơ của cha Bosco và lòng tin vững chắc của người không bao giờ phôi phai. Người đã nhận được nhiều khuyến khích từ cha Borel John, vị ân nhân đã giúp đỡ nhiều trong công việc của cha Bosco, đồng thời cha cũng nhận được nhiều khuyến khích nâng đỡ từ cha Cafasso Joseph, người bạn và người cha tinh thần của cha Bosco. Giấc mơ mà cha Bosco có khi lên 9 tuổi: trong giấc mơ ấy một phu nhân đẹp đã bày cho cậu bé Bosco biết dùng yêu thương như một phương tiện để đến với giới trẻ, giấc mơ này thường quay trở lại với cha Bosco để người cảm thấy vững tâm hơn.
Ngôi trường học mà cha Bosco đã thành lập đầu tiên cho giới trẻ là một cái lều sụp đổ tại Valdocco, khu nhà ở chưa phát triển tại Turin. Ngày nay ở đó có một cung điện Ðức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu nguy nga, một trung tâm cho giới trẻ, một trường học và một ngôi biệt thự là nhà xuất bản báo chí. Giấc mộng của Don Bosco đã thành sự thật. Những người cười nhạo người trước kia giờ đây nhìn cha Bosco với sự hâm mộ cao độ. Tên "Don Bosco" đã trở nên nổi tiếng khắp nước Ý.
Theo lời khuyên của Ðức Giáo Hoàng Pius thứ 9, Don Bosco đã viết lên Hiến Chương thành lập dòng của người, và ngày 18 tháng 12 năm 1859, mười tám thanh niên của cha Bosco, xưa đã một lần là những chú bé nhỏ được cha Bosco coi sóc đã trở nên những thành viên đầu tiên của Hội Dòng Salesian. Cha Don Bosco gọi họ là "những người Salesian" sau tên của thánh Francis de Sales, là một vị thánh và cũng là giám mục của Geneva lúc bấy giờ, nguời đã làm cho cha Bosco luôn luôn say mê sùng mộ vì lòng tốt và nhiệt thành sùng đạo của người.
Trong năm 1872, cha thánh Gioan Bosco đã cùng với thánh Mary Mazzarello sáng lập Dòng Salesian nữ mang danh Những Người Con Của Ðức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu. Trong năm 1876, cha Bosco đã sáng lập và phát triển một hiệp hội cho các giáo dân tín hữu có nhiệt tâm chia sẻ và quan tâm đến giới trẻ. Ðây là những người độc thân, lập gia đình, hoặc giáo sĩ liên kết với các thành viên Salesian để làm việc với và cho giới trẻ.
Cha thánh Don Bosco sống trọn 72 năm đầy những cố gắng, khó khăn cực nhọc dành cho Thiên Chúa và cho giới trẻ. Thậm chí trong những ngày cuối cùng của người, cho dù mắt đã yếu gần như mù, đầu cúi thấp với dáng vẻ mệt nhọc, và khó khăn trong việc đi lại, cha vẫn đã giữ được liên hệ với tất cả các thành viên Salesians của cha. Cha đã hết mực lo lắng, khuyên nhủ, và động viên họ.
Ngày 31 tháng Giêng năm 1888, cha Bosco giã từ cuộc đời về với Chúa. Lời cuối cùng của cha là điều tượng trưng tất cả cho cuôc đời của cha: "Hãy nói với những giới trẻ của ta rằng: Ta sẽ đợi chờ chúng trên Thiên Ðàng!" Vào Lễ Chúa Nhật Phục Sinh năm 1934, người đã được Ðức Giáo Hoàng Pius XI phong lên làm một vị thánh trong Giáo Hội. Sơ Mary Mazzarello được phong thánh do Ðức Giáo Hoàng Pius XII.
Theo chân cha thánh Don Bosco là một đội ngũ những người Salesians, các linh mục, các sơ, các thầy, và những người Salesian Co-operator đã và đang hiến dâng cuộc sống của mình cho việc phụng sự Chúa Kitô như những người bạn, những vị linh mục và những nhà giáo dục cho giới trẻ. Hôm nay những người Salesians đang phục vụ giới trẻ trên 108 quốc gia. Riêng Dòng Salesian Don Bosco đã hiện diện tại Việt-nam từ năm 1952 cho đến nay.
Chuyên mục: , ,

Marcellino Bánh và Rượu - HD

Marcellino Bánh và Rượu

Các tu sĩ Tây Ban Nha thường truyền tụng câu truyện về cậu bé tên là Marcellino, nghĩa là bánh và rượu. Mới sinh ra, cậu bị đem quăng trước cửa đan viện, và đã được các tu sĩ nuôi nấng. Vì Marcellino tính tình nghịch ngợm, nên thầy đầu bếp cấm không cho cậu leo lên gác. Nhưng tò mò, một ngày kia Marcellino leo lên gác, cậu ngạc nhiên vì thấy một người khổng lồ bị treo trên Thập Giá. Nghĩ rằng người bị treo trên đó đói nên ngay đêm đó Marcellino vào bếp lấy vài miếng bánh mang lên cho ông, người khổng lồ đưa tay đón nhận bánh của cậu bé và cười với cậu.
Xem phim


Từ đó, ngày nào cậu cũng mang bánh lên cho người khổng lồ. Một hôm ông ôm choàng lấy cậu bé. Ông hỏi: - Ðiều gì làm cho con thấy thích nhất trên trần gian này?

Cậu nói: - Con muốn được thấy mẹ con.

Người khổng lồ liền nói với cậu bé: - Con được thấy nếu con chấp nhận chết.

Hôm sau các thầy không thấy cậu trong nhà, mặc dù đi tìm khắp nơi. Sau cùng thấy cậu bé chết trong tay Chúa Giêsu.

Marcellino là một người trong những câu chuyện đầy ý nghĩa về bí Tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu đã thiết lập và để lại cho Giáo Hội như một giao ước muôn đời. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về Bí Tích cao cả ấy. Sau khi đã hóa bánh ra nhiều nuôi hơn 5,000 người, Chúa Giêsu bắt đầu nói về Thánh Thể, bánh mà Ngài đã cho mọi người ăn no nê là dấu chỉ của Bánh Trường Sinh, là chính Ngài. Chỉ có Ngài mới là Bánh nuôi sống con người, chỉ có Ngài mới đem lại hạnh phúc cho con người, chỉ có Ngài mới cho con người được sống trường sinh bất tử.

Chúa Giêsu không ngừng mời gọi con người mở rộng tâm hồn để đón nhận Ngài như Ngài nói với cậu bé Marcellino trong truyện trên. Bánh và rượu là ngôn ngữ cậu bé dùng để nói lên với Chúa Giêsu, cậu bé cũng muốn săn sóc Chúa. Bánh và Rượu Ngài ban trong Thánh Thể cũng là cách Ngài tỏ tình yêu, Ngài muốn nói với chúng ta "Ta yêu thương các con, Ta săn sóc các con". Ngài chính là Bánh và Rượu nuôi sống chúng ta, Ngài muốn chúng ta mở rộng tâm hồn để đón nhận Ngài. Khi chúng ta mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể thì lúc đó con người mới mở rộng trái tim và bàn tay để đón nhận tha nhân.

Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời được ban xuống để lôi kéo con người lên với Chúa Cha. Người tín hữu Kitô tiếp nhận Thánh Thể để được lãnh nhận tình yêu Chúa và từ đó mới trào sang cho tha nhân, đưa mọi người về với Thiên Chúa. Chia sẻ bàn tiệc với Chúa Giêsu trong Thánh Thể, người tín hữu cũng chia sẻ cơm bánh cho tha nhân hằng ngày. Thật kỳ diệu thay, chính khi chia sẻ tình yêu cho tha nhân, họ lãnh nhận được sự sống trường sinh của Chúa Kitô tràn ngập tâm hồn.
Chuyên mục: , ,

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

PHÉP LẠ ĐỨC MẸ FATIMA


Fatima - Phép Lạ Mặt Trời Nhảy Múa

Trước Rừng Người

(The Appearing of Our Lady at Fatima)


Xem phim
 I. Mặt trời nhảy múa quay cuồng, nhào xuống đất

Thế giới như đã đến ngày tận thế! Trên một trăm ngàn người trong ngôi làng nhỏ vùng sơn cước này đã hãi hùng vì một sự kiện kỳ lạ, sự kiện này sẽ đi vào lịch sử thế giới với Ðại Hồng Thủy của Thánh Kinh!

Mọi người đều thực sự trông thấy mặt trời nhảy múa trên bầu trời và nhào xuống đất. Vừa lúc sắp chạm xuống đất thì mặt trời chợt ngừng lại và lên cao.

Thật khó mà tin được một câu truyện quá lạ thường như vậy. Nhưng chính chúng tôi đã trông thấy tận mắt và chỉ thuật lại cho các bạn nghe những điều mắt thấy tai nghe mà thôi.

Trời mưa tầm tã. Ðó là một trong những trận bão lớn nhất trong trí nhớ của các cụ già trong vùng này. Nó đã chận đứng đoàn quân viễn chinh Pháp.

Những trận bão đã không ngăn được đám đông này. Họ đã từ toàn quốc, từ Ý, Tây Ban Nha, và Pháp, vì những tin đồn là phép lạ sẽ xảy ra hôm nay.

Họ đã thấy phép lạ

Những cơn gió mạnh đã lùa những hạt mưa tuôn vào lớp quần áo dày cộm của mọi người. Tất cả đều bị ướt đẫm khi cơn mưa chợt dứt vào lúc một giờ trưa, giờ chính phủ.

Một bé gái đứng trong đám đông chợt la lớn: "Nhìn mặt trời kìa!"

Mây tan đi, trời thật trong, mọi người đều nhìn thấy mặt trời rất rõ ràng. Nhưng chính mặt trời thì lại không trong chút nào mà tai tái như màu của một chiếc khay bằng bạc. Mọi người đều có thể nhìn thẳng vào mặt trời mà không phải nhíu mắt.

Chiếc khay bạc bắt đầu phát ra nhiều màu sắc thay đổi: đỏ, xanh lá cây, xanh dương, tím, vàng cam, và xanh tím. Mặt mọi người, cây cỏ, mặt đất, tất cả đều thay đổi theo những màu này giống như ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ kính màu.

Khuôn mặt của một bà bên có màu xanh lá non, quần áo thì lấp lánh đỏ và vàng, còn chân thì lại có màu xanh nước biển. Trong khoảnh khắc sau, mặt bà đổi màu xanh tím, còn quần áo thì màu xanh nước biển. Những màu này cứ thay đổi liên tục.

Mặt của một người đàn ông khác đang nhìn sững vào mặt trời thì một bên màu cam còn một bên màu tím. Chiếc áo choàng của ông ta, dệt bằng len nâu, thì ánh lên màu xanh lá cây, quần thì lại màu tím. Nhưng cũng chỉ trong khoảnh khắc sau, toàn thân ông ta không còn một màu sắc dị thường nào nữa.

Trong lúc chiếu ra những ánh dị thường này, mặt trời quay tít như một bánh xe. Rồi giống như chiếc bánh xe bị rời khỏi trục, mặt trời nhảy múa lung tung, lắc lơ, run rẩy, và ẩn hiện qua những đám mây.

Bất chợt, trong lúc đang quay tít, mặt trời bỗng dưng đâm nhào xuống đất khiến mọi người đều kinh hoàng. Nó rơi xuống càng lúc càng nhanh và càng lúc càng nóng.

Ðám đông khóc

Tất cả đám đông đều phủ phục xuống đất tựa như đó là nơi che chở của họ. Nhiều người trong đám la thất thanh, "Tận thế rồi!" Những người khác thì lớn tiếng xưng tội mình ra giữa đám đông.

Bùn đất nhớp nháp sau cơn mưa tầm tã, nhưng mọi người đều quì xuống thành khẩn cầu nguyện. Nhiều người la lớn: "Tôi tin! Tôi tin!", "Thật là phép lạ!", "Lạy Chúa Giêsu, xin cứu chúng con!, "Xin Chúa tha tội cho chúng con!", và "Mẹ Maria, xin cứu con!"



II. Một vài nhân chứng phép lạ

Tôi cư ngụ gần thị xã Ports, phía Bắc Fatima chừng 90 dặm. Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima nhằm ngày sinh nhật thứ 17 của tôi: 13 tháng 5 năm 1900.

Những chuyện về các lần hiện ra được tường thuật khắp nước. Ai cũng nói về Ðức Mẹ hiện ra tại Cova da Iria ngày 13 tháng 5 năm 1917, nói chuyện với ba trẻ em và truyền cho các em hãy tới Cova.

Chính quyền chống đối những tin tức liên hệ tới các biến cố đó.

Từ chỗ chúng tôi cư ngụ tới thị xã Leiria phải đi mất 4 giờ xe lửa, rồi từ Seiria tới Cova da Iria phải đi bộ khoảng hơn 3 giờ. Sáng hôm đó chúng tôi đi bộ trên quãng đường này. Nói là đường chứ thực ra đó chỉ là đường mòn của đàn dê cừu.

Ngày 11 tháng 10 năm 1917, cha tôi nói với mẹ tôi: "Ngày mai chúng ta sẽ đi Fatima. Chúng ta sẽ chứng kiến những gì đã xảy ra."

Có rất nhiều người nghĩ rằng lời báo tin phép lạ sẽ xảy ra là lường gạt. Người thì cho đây là thủ đoạn của chánh quyền.

Riêng tôi tự nghĩ sẽ có gì xảy đến vì từ ngày có trí khôn tôi luôn luôn tin Tôn Giáo và dự Thánh Lễ mỗi ngày.

Trong khi Giáo Hội không hề lên tiếng về các lần Ðức Mẹ hiện ra thì chánh quyền lại chống đối. Chánh quyền sẽ trừng phạt bất cứ một linh mục nào loan tin về việc Ðức Mẹ hiện ra hoặc chỉ nói trống là "có thể có việc gì đã xảy ra."

Những đám đông

Chúng tôi thấy hàng ngàn người trên các nẻo đường khi chúng tôi rời thị xã Leiria hồi 6 giờ sáng về đi bộ qua các đồi núi đá. Có một số người đội trên đầu những đồ ăn trưa. Họ hăng hái băng qua những đồi núi cao lởm chởm sỏi đá mà không cảm thấy mệt mỏi.

Cả một khu chừng ba dặm

Tôi đã gặp những người im lặng lội bộ suốt quãng đường dài để hãm mình cầu cho các binh sĩ vùng Leiria được bình an trong cuộc thế chiến. Có người hãm mình không uống lấy một hớp nước trong suốt cuộc hành trình.

Chúng tôi tới ngay khúc dẫn vào thung lũng Cova da Iria, chỗ đã được đánh dấu bằng một đồng đá thô sơ. Thung lũng này rộng chừng ba dặm và hồi đó được dùng làm đồng cỏ nuôi mục súc. Chỗ thì có đá lổm chổm, chỗ thì có nước, cây cối bụi rậm. Quang cảnh cho thấy thung lũng này là một vùng hoang dại.

Chúng tôi tới nơi vào khoảng 11 giờ 30 sáng và thấy một số binh lính đang cố gắng chặn không cho dân chúng tiến vào thung lũng Cova da iria.

Nhưng số binh lính không đủ để kiểm soát được dân chúng vì đám đông quá lớn. Nhiều binh sĩ cưỡi ngựa nhưng đám đông tách ra thành nhiều đám nhỏ. Khi binh lính ngăn chặn được góc này thì dân chúng lại nhào vào góc kia. Chẳng mấy chốc thung lũng đã tràn ngập những người.

Lưỡi lê của một người lính đã làm tôi bị thương ở tay. Chúng tôi tiến tới gần cây sồi nơi các trẻ đã chứng kiến những lần Ðức Mẹ hiện ra. Ba em đó đã có mặt sẵn ở đây. Các em đứng trước một cây sồi.

Nước ngập đến mắt cá chân

Mọi vật đều sũng nước. Dân chúng đứng che dù, nước ngập đến mắt cá chân. Ðâu đâu cũng là bùn lầy. Tất cả chúng tôi đều ướt đẫm.

Sau một lát, mặt trời bắt đầu ló rạng tuy mưa vẫn rơi. Mưa tầm tã, nước đổ xuống như thác. Rồi đột nhiên mưa chấm dứt và mặt trời bắt đầu quay, như nhẩy múa từ chỗ này tới chỗ kia. Các đám mây bắt đầu trở màu xanh, màu vàng, rồi đủ mọi màu.

Mặt trời rơi

Sau đó chúng tôi thấy mặt trời lao xuống chỗ các em đứng trước đó. Dân chúng bắt đầu kêu khóc. Có người xưng tội lớn tiếng vì chung quanh đó chẳng thấy một vị linh mục nào.

Hãy cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng

Chính mẹ tôi cũng quơ tay ôm lấy tôi và ghì chặt vào lòng. Mẹ tôi khóc lóc vì cho là giờ tận thế đã đến. Tôi cũng nghĩ rằng trái đất sắp tiêu tan trong lửa. Khi tôi ngửng đầu lên nhìn mẹ tôi thì tôi thấy có đám mây lơ lửng ngay trên vai tôi.

Tôi thấy mặt trời lao xuống đám cây. Sau đó đám trẻ đứng dậy và quay lại nhắn nhủ dân chúng: "Hãy cầu nguyện, cầu nguyện sốt sắng. Mọi việc đã được an bài."

Rồi các em tiến về phía cây sồi và chúng tôi thấy các em cúi xuống như hôn một người nào đó. Tuy không thấy ai nhưng chúng tôi biết là có ai đó vì các em đều cúi xuống và môi các em mấp máy như đang nói chuyện với một người.

Chúa bị xúc phạm

Tôi ở xa các em và cây sồi chừng 75 tới 100 feet.

Tôi thấy mặt trời quay trở về cùng một hướng như trước kia đã lao xuống. Ðám đông nhất loạt quì xuống và cầu nguyện thật sốt sắng. Sau đó em Lucia bảo chúng tôi phải cầu nguyện, và lần chuỗi môi khôi mỗi ngày, vì nhân loại đã xúc phạm tới Chúa. Nếu chúng ta không làm như vậy thì đau khổ sẽ bao trùm thế giới, và Nga Sô sẽ truyền bá chủ nghĩa cộng sản khắp mọi nơi trong hoàn cầu. Có một số người hôn các em.

Quần áo khô ráo trở lại

Gió bắt đầu thổi, và mặt trời đã trở về vị trí cũ. Chúng tôi thấy gió thổi rất mạnh mà cây cối vẫn đứng yên. Gió thổi mạnh vô cùng và chỉ độ 5 phút sau thì mặt đất hoàn toàn khô ráo, và quần áo chúng tôi cũng khô và sạch như mới giặt.

Tôi tin đây là một phép lạ, một phép lạ thật sự.



(Trích bài "Phép lạ" của Vi Vu, Tạp chí Trái Tim Ðức Mẹ số tháng 5 năm 1992)

Chuyên mục: , ,

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

THÁNH GIÊRAĐÔ (1726 - 1755)

gierado
THÁNH GIÊRAĐÔ (1726 - 1755)
Tu sĩ  
ngày 16 tháng 10

Thánh Giê-ra-đô sinh năm 1726 ở Muro, một thị trấn nhỏ miền nam nước Ý. Ngài diễm phúc có bà mẹ Benedetta đạo đức. Bà dạy con về tình yêu vô biên của Thiên Chúa và quả thật con bà hạnh phúc vì thấy mình gần gũi Thiên Chúa.
Xem phim
Cha mất năm 12 tuổi, Giê-ra-đô trở thành lao động chính trong nhà. Ngài học việc với một hiệu may trong thị trấn, và chẳng tránh được chuyện bị đàn anh đập đánh. Sau 4  năm học việc, ngay khi  thành nghề, Giê-ra-đô bảo rằng mình sẽ là tôi tớ phục vụ cho Đức Giám Mục giáo phận Lacedonia của ngài. Bạn hữu can ngăn, vì đức cha thường xuyên giận dữ quát mắng vô cớ khiến đầy tớ không ai chịu nổi hơn vài tuần. Không đến nổi nào đối với Giê-ra-đô. Ngài làm đủ mọi việc, và làm cho đến khi đức cha qua đời: 3 năm ! Giê-ra-đô làm bất cứ việc gì, chỉ cần tin rằng đó là ý Chúa. Bị giám mục hay thợ cả đánh đập la mắng, dù đúng sai thế nào ngài vẫn chấp nhận, vì ngài thấy chịu đau khổ như thế là bắt chước Đức Ki-tô. Ngài nói: “Chúa muốn điều tốt cho tôi”, rồi ngài đến quỳ trước Thánh Thể lâu giờ, trước bí tích Chúa Giê-su chịu nạn và phục sinh.
Năm 1745, 19 tuổi, ngài trở về Muro mở hiệu may của mình. Công việc làm ăn phát đạt nhưng chủ tiệm không có lắm tiền vì hay làm phúc. Ngài để riêng số tiền cần thiết cho mẹ và các em, còn lại thì cho người nghèo hoặc xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Cuộc sống cứ thế trôi đi, không có chuyển biến gì ngoại trừ lòng mến của Giê-ra-đô ngày một tăng tiến vững chắc hơn. Mùa chay 1747, ngài dốc quyết trở nên giống Chúa Ki-tô hết sức có thể. Ngài thực hành khổ chế nhiệm nhặt và tìm sự khiêm hạ thật sự: giả vờ điên và lấy làm vui khi bị thiên hạ cười nhạo trên đường phố.
Muốn hoàn toàn phục vụ Chúa, ngài đi theo các thầy dòng Capuchin nhưng các thầy không nhận. Ở tuổi 21, ngài cố gắng sống như một nhà tu khổ hạnh. Ngài muốn nên giống Chúa Ki-tô đến độ chụp ngay lấy một vai chính trong hoạt cảnh Thương Khó thật sống động trình diễn tại Vương Cung thánh đường Muro.
Với các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế
Vào năm 1749, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đến Muro. Có 15 vị thừa sai và họ cuốn hút 3 xứ đạo của thị trấn nhỏ này. Giê-ra-đô theo sát công việc của các cha các thầy và xác quyết đây đúng là cuộc sống của ngài. Ngài muốn theo đoàn nhưng cha bề trên Cafaro không nhận vì lý do sức khỏe. Giê-ra-đô nài nỉ họ đến nỗi khi sắp rời thị trấn, cha Cafaro phải đề nghị gia đình khóa cửa nhốt chàng lại trong phòng.
Một việc xảy ra gây xúc động nhiều thanh niên sau này: Giê-ra-đô buộc khăn trải giường lại, thòng xuống, trèo qua cửa sổ đi theo các thừa sai. Phải đi vội vả 12 dặm ngài mới bắt kịp họ. Giê-ra-đô nói: “Cho con đi với, cho con thử đi, nếu con không tốt thì hãy trả con về”. Cha Cafaro không thể làm gì hơn trước tình cảnh như thế, ngài cho Giê-ra-đô một “cơ hội”. Cha gởi Giê-ra-đô đến cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế ở Deliceto, trong thư giới thiệu, ngài viết: “Con gởi đến cho các cha một người mà theo con chẳng làm được việc gì ...”
Giê-ra-đô cảm thấy hoàn toàn yêu thích lối sống mà thánh An-phong, đấng sáng lập dòng đã vạch ra. Ngài bị thôi thúc khám phá tình yêu của Chúa Giê-su Thánh Thể, và ngài cũng mến yêu Mẹ Maria không kém.
Ngày 16.7.1752, Giê-ra-đô khấn lần đầu vào dịp lễ Chúa Cứu Thế, hôm ấy lại trùng với lễ Đức Mẹ Ca-mê-lô. Sự trùng hợp này khiến ngài thích thú. Từ đó, ngoại trừ hai lần đến Naples và thời gian ở Caposele nơi ngài qua đời, hầu như cả cuộc đời tu sĩ của thánh Giê-ra-đô là phục vụ ở cộng đoàn Iliceto.
Câu “chẳng làm được việc gì” của cha Cafaro chừng như không đúng nữa. Giê-ra-đô làm việc rất siêng năng, những năm sau đó ngài làm đủ thứ việc: làm vườn, ông từ nhà nguyện, thợ may, khuân vác, đầu bếp, thợ mộc, đốc công coi việc xây dựng nhà ở Caposele. Giê-ra-đô học hỏi rất nhanh, đi thăm xưởng chạm khắc gỗ chẳng bao lâu, ngài trở nên một tay khắc tượng chịu nạn nhà nghề. Ngài là kho báu của cộng đoàn, nhưng ngài chỉ có một khát vọng: làm theo ý Chúa trong mọi sự.
Năm 1754, khi cha linh hướng yêu cầu thầy Giê-ra-đô viết điều thầy mong ước hơn hết, thầy viết: “Yêu Chúa nhiều, luôn hiệp nhất với Chúa, làm mọi sự vì Chúa, yêu mọi sự vì Chúa, chịu nhiều đau khổ vì Chúa, công việc duy nhất của con là làm theo ý Chúa”
Thử thách lớn
Sự thánh thiện thật sự luôn luôn phải được trắc nghiệm bằng thập giá. Vào năm 1754, thánh Giê-ra-đô đã phải trải qua một thử thách lớn khiến ngài đáng được ơn đặc biệt để giúp đỡ các bà mẹ và trẻ em. Có một thời công việc mà ngài nhiệt tình làm là khuyến khích và giúp đỡ các cô gái muốn đi tu. Thường thì ngài giúp số tiền hồi môn cần thiết để những cô gái nhà nghèo được nhận vào tu viện.
Neria Caggiano là một trong những cô gái như thế. Nhưng rồi cô chán tu, ở tu viện được 3 tuần thì cô về nhà. Để giải thích cho hành động của mình, Neria bắt đầu rêu rao những chuyện sai sự thật về đời sống các nữ tu. Khi những người tốt ở Muro không tin những chuyện như thế lại xảy ra trong một tu viện mà Giê-ra-đô giới thiệu, cô quyết định cứu lấy tiếng tốt của mình bằng cách làm mất thanh danh ân nhân của cô. Cô gởi một lá thư cho thánh An-phong, bề trên của Giê-ra-đô, tố cáo rằng thời gian vừa qua thầy Giê-ra-đô đã lỗi đức khiết tịnh với một cô gái nhỏ trong gia đình mà ngài thường đến trọ khi đi làm việc.
Thầy Giê-ra-đô bị thánh An-phong gọi lên để trả lời. Thay vì chống đỡ, thầy im lặng theo gương Thầy Chí Thánh. Trước sự im lặng này, thánh An-phong không quyết định được gì ngoài việc bắt thầy phải chịu một hình phạt sám hối nghiêm khắc: không được rước lễ, không được liên hệ với bên ngoài.
Đối với thánh Giê-ra-đô, thật chẳng dễ gì lấy công việc nặng nhọc phần xác mà đổi được việc đọc kinh cầu nguyện phần hồn, nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ so với chuyện bị tước mất Thánh Thể. Ngài cảm thấy mất mát đến độ xin đừng cho ngài giúp lễ nữa, kẻo ước muốn được rước Chúa khiến ngài cướp mất Mình Thánh Chúa trên tay cha chủ tế.
Một thời gian sau, cô Neria lâm bệnh nguy kịch, cô viết một bức thư cho thánh An-phong thú nhận tội vu khống của mình. Thánh An-phong lòng tràn ngập mừng vui vì con cái mình vô tội. Nhưng Giê-ra-đô đã chẳng ngã lòng trong cơn thử thách thì nay cũng chẳng lấy làm phấn chấn lắm khi được chứng minh là vô tội. Trong cả hai giai đoạn, ngài cảm thấy ý Chúa được vẹn tròn, đối với ngài như thế là đủ.
Người làm phép lạ
Ít vị thánh có quá nhiều sự kiện lạ lùng được ghi nhận như thánh Giê-ra-đô. Qua tiến trình xin phong chân phúc và hiển thánh cho ngài, người ta thấy các phép lạ ngài làm quả thực muôn màu muôn vẻ và vô cùng phong phú.
Thánh Giê-ra-đô thường rơi vào trạng thái ngất trí khi cầu nguyện hay khi ước muốn thiết tha kết hợp với Chúa. Trong những lúc như thế, cả người ngài được nhắc lên khỏi mặt đất. Có những ghi nhận đáng tin cậy chứng minh rằng hơn một lần ngài có mặt và trò chuyện ở hai nơi khác nhau cùng một lúc.
Những phép lạ nổi tiếng nhất của ngài là những phép lạ giúp đỡ người khác. Khi đọc hạnh thánh Giê-ra-đô, những việc lạ lùng cứ theo nhau xảy ra khiến người ta dần dần cảm thấy như đó là chuyện bình thường. Ngài cứu sống một cậu bé rơi từ vách đá cao, chúc lành cho phần lúa mì ít ỏi của một gia đình nghèo khiến nó cứ còn mãi không vơi cho đến mùa gặt, đi trên mặt nước để đưa một chiếc thuyền đánh cá vượt qua cơn bão an toàn vào bờ. Nhiều lần ngài làm cho bánh hóa nhiều để phân phát cho người nghèo. Có khi ngài nhắc người ta về những tội kín đáo của họ khiến họ phải ngượng ngùng thú nhận, rồi ngài giúp họ hoán cải để được ơn tha thứ.
Việc ngài nâng đỡ các bà mẹ đã bắt đầu rồi, ngay khi ngài còn sống. Một lần nọ, khi từ giã gia đình người bạn là Pirofalo, cô con gái trong nhà chạy theo đưa cho ngài chiếc khăn ngài bỏ quên. Lúc ấy Giê-ra-đô nói tiên tri: “Cứ giữ nó đi, một ngày nào đó cháu sẽ cần nó”. Cái khăn ấy được giữ như một vật kỷ niệm quý giá. Sau này, cô gái ấy có nguy cơ chết khi sinh con. Cô nhớ lại lời thánh Giê-ra-đô và nhờ  người mang lại cho cô tấm khăn ấy. Hầu như ngay lập tức cơn nguy hiểm qua đi và cô sinh con khỏe mạnh. Trong một trường hợp sinh khó khác, bà mẹ xin mọi người đọc kinh kính thánh Giê-ra-đô thì cả hai mẹ con an toàn qua cơn nguy hiểm.
Chết và vinh quang
Với thể chất yếu ớt, rõ ràng thánh Giê-ra-đô không thể sống thọ. Năm 1755, xuất huyết trầm trọng và bệnh lỵ đã bắt lấy ngài. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, nhưng ngài vẫn còn nợ anh em một bài học quan trọng về sức mạnh của đức vâng phục. Bề trên ra lệnh cho ngài phải khỏe lại, nếu đó là ý Chúa. Lập tức bệnh của ngài dường như biến mất, ngài rời khỏi giường và lại tiếp tục công việc bình thường với anh em. Tuy nhiên, ngài biết sự chữa lành này chỉ là nhất thời và ngài chỉ còn sống được hơn một tháng nữa thôi.
Chẳng bao lâu ngài lại trở về giường bệnh và bắt đầu chuẩn bị cho cái chết của mình. Ngài không còn nhận ra ý Thiên Chúa chút nào nữa, những giòng chữ này được ghi trên cửa: “Tại đây ý Thiên Chúa được thi hành, khi Người muốn và như Người muốn”. Thường thì ngài muốn nghe đọc lời nguyện này: “Lạy Chúa, con muốn chết để làm theo thánh ý Chúa”. Trước nửa đêm 15.10.1755 một chút, linh hồn trong trắng của thánh Giê-ra-đô về với Thiên Chúa.
Lúc thánh Giê-ra-đô qua đời, thầy coi nhà nguyện, theo sự sôi nổi của mình đã đánh chuông lễ thay vì chuông báo tử. Hàng ngàn người đến viếng “ông thánh của họ” và cố gắng tìm một chút kỷ vật của người đã thường giúp đỡ họ. Sau cái chết của thánh Giê-ra-đô, trên khắp nước Ý, người ta bắt đầu thuật lại các phép lạ ngài đã làm. Năm 1893, Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII phong Chân Phúc cho ngài. Ngày 11.12.1904. Đức Giáo Hoàng Pi-ô X đặt ngài lên hàng hiển thánh.
Vị thánh của các bà mẹ
Nhờ sự cầu bầu của thánh Giê-ra-đô, Thiên Chúa đã thực hiện nhiều việc lạ lùng cho các bà mẹ nên các bà mẹ ở Ý rất yêu mến ngài và nhận ngài làm đấng bảo trợ. Trong tiến trình phong chân phúc cho ngài, một nhân chứng đã xác quyết rằng ngài được mệnh danh là “il santo dei felice parti” tức là vị thánh giúp mẹ tròn con vuông. Lòng sùng kính này rất phổ biến ở Bắc Mỹ, cả Hoa Kỳ lẫn Canada.
Hàng ngàn bà mẹ được ơn nhờ sự cầu bầu của thánh Giê-ra-đô qua sinh hoạt Liên Minh Thánh Giê-ra-đô. Nhiều bệnh viện đặt khoa sản dưới sự bảo trợ của ngài, trao cho bệnh nhân huy hiệu và kinh cầu nguyện với thánh nhân. Hàng ngàn đứa trẻ được cha mẹ đặt tên theo thánh Giê-ra-đô vì tin rằng nhờ ngài mà con cái họ chào đời mạnh khỏe. Không phải chỉ có bé trai mới được đặt tên theo ngài, cả các bé gái cũng thế. Thật thú vị khi chúng ta nghe gọi những tên như Gerarda, Geralyn, Gerardine, Geriane, Gerardette.
Chuyên mục: ,

Bông Huệ Ngoài Đồng

BongHueNgoaiDong-Front Xem và ngẫm, 1 bộ phim khá hay...
Đạo diễn : Ralph Nelson's
Diễn viên chính : Sidney Poitier, Lilia Skala, Lisa Mann,
Sản xuất : MGM/Unied Artists 1963
Thời gian : hai tập, 156 phút
Xem phim tập 1Xem phim tập 2
Bộ phim lấy cảm hứng từ lời Đức Giêsu trong Tin Mừng thánh Matthêu : “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, chúng không làm lụng, không kéo sợi ; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6, 28-29).
Truyện kể về một lữ khách “Mỹ Đen” tên Smith đi ngang đường, nhận giúp chút việc cho nhóm các nữ tu quốc tịch Đức. Dù anh phản đối, các nữ tu xác tín anh là người Chúa gửi đến để giúp nhà dòng xây dựng nhà nguyện. Đức tin của họ tuy đơn sơ nhưng mãnh liệt, đủ sức biến đổi lòng người ...

Chuyên mục: , ,

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Don’t Cry for Me Sudan - Đừng Khóc Thương Tôi - Sudan

photo151474Cha Gioan Lee là linh mục dòng Salêriêng Don Bosco. Tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhưng cha đã bỏ tất cả công danh sự nghiệp sau lưng, và cha đã đáp lại tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa để trở thành một linh mục truyền giáo trong dòng Salêriêng Don Bosco.
Ngay sau khi được truyền chức linh mục tại Tòa Thánh Vatican, cha đã tình nguyện đến truyền giáo tại miền Nam Sudan thuộc Phi Châu. Cha đã từ bỏ tất cả công danh, sự nghiệp của người bác sĩ để trở thành linh mục. Và hơn thế nữa, cha còn muốn trở thành người mục tử nhân lành sống giữa đoàn chiên nghèo khổ để chăn dắt họ. Vì thế nên cha đã tình nguyện đến sống tại một xứ sở nghèo đói nhất thế giới, giữa những người đói khổ và bệnh tật trong làng Tonj thuộc miền Nam Sudan- Phi Châu trong suốt 8 năm trước khi cha qua đời vị căn bệnh ung thư ruột già.
Cuốn phim tài liệu: "Don't Cry for Me Sudan" năm 2010 ("Đừng Khóc Thương Tôi - Sudan") đã chia sẻ về cuộc đời truyền giáo của linh mục Gioan Lee Tae Suk và là cuốn phim sẽ tham dự Đại hội điện ảnh lần thứ 61 tại Bá Linh vào năm tới- 2013.
Xem phim
Chuyên mục: ,